THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 118
Số lượt truy cập: 1437594
QUANG CÁO
TUY LỘC: BỨC TRANH QUÊ (Phần VII: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TRÊN ĐÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ (1987-2003) 6/22/2017 3:15:55 PM
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về khoán sản phẩm đến hộ và người lao động được triển khai đến các HTX trong cả nước được Tuy Lộc đón nhận như một luồng gió mới thổi sức sống và niềm tin vào cuộc sống nhân dân. Từ đây sản xuất nông nghiệp bước sang một thời kỳ mới, thay đổi quan hệ sản xuất cơ chế quản lý, đổi mới cách nghĩ cách làm đưa nền sản xuát kinh tế HTX từng bước đi lên.

TUY LỘC QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI (1987-1995).

        Thực trạng của HTX Tuy Lộc lúc này còn nhiều công việc cần thào gỡ. Một thời gian dài sống trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nên từ nếp sống và cách nghĩ còn trông chờ ỷ lại, do đó chhuwa phát huy hết nội lực, chưa thực sự chủ động phấn đấu vươn lên. Cơ sở vật chất kỹ thuật hạn chế, nguồn vốn tích lũy ít ỏi. Đội ngũ cán bộ quản lý thiếu năng lực, ít kinh nghiệm. Đồng ruộng Tuy Lộc thuộc vùng chiêm trũng vì thế mới mưa là úng-mới nắng đã hạn, điều kiện canh tác  phụ thuộc vào thiên nhiên. Những năm mưa thuận gió hòa thì sản lượng ổn định-tăng lên nhưng những năm thời tiết không thuận lợi thì thường mất mùa, năng suất sản lượng giảm đáng kể. Điều kiện sản xuất, độ đồng đều của đồng ruộng còn quá chênh lệch-ruộng nhiều vùng nên mức sản lượng rất khó phân định- phân chia lô thửa khá phức tạp. Được sự lãnh đạo trực tiếp của BCH Đảng bộ Lộc Thủy, sự chỉ đạo sát sao của Đ.B bộ phận Tuy Lộc, cán bộ nhân dân tin tưởng vào đường lối của Đảng, tin tưởng vào Nghị quyết 10 nên mạnh danl triển khai thực hiện.

        Lấy dân làm gốc, mọi việc dù khó đến đâu được dân bàn liệu cũng làm được. Bằng phương pháp bàn bạc dân chủ từ ngày mồng 6 đến mồng 8-10-1988, Tuy Lộc mở Đại hội chủ hộ xã viên hơn 600 đại biểu-Một Đại hội nhiều đại biểu nhất từ trước đến lúc bấy giờ.

        Đại hội tổ chức trong 3 ngày để bàn bạc việc thục hiện NQ10 và phương pháp làm ăn. Nhiều hội nghị cốt cán quân dân chính Đảng bàn cách tiến hành hợp lý và đúng hướng. Hội nghị “ lão nông tri điền” được triển khai để phân định ruộng đất, năng suất, sản lượng, đánh giá tài sản sức kéo...đảm bảo phân chia đồng đều cho 7 đội sản xuất. Với quyết tâm đó nên trong một thời gian ngắn HTX Tuy Lộc nhanh chóng có đề án kinh tế, định mức kỹ thuật. Phân chia các lợi ích kinh tế giữa HTX và xã viên trên sào ruộng khoán một cách hợp lý. Vụ đông - xuân năm 1988-1989 Tuy Lộc đã thực hiện khoán gọn sản phẩm 100% trên cả 3 vùng: vùng ngọt trong đê-vùng ngọt ngoài đê-vùng đồng mặn đến từng hộ và người lao động.

        Để đảm bảo thành công trong thực hiện khoán sản phẩm, tạo niềm tin cho xã viên, tạo đà cho những nă tiếp theo, ban quản lý HTX đã tiến hành một loạt công việc hết sức khẩn trương, có hiệu quả: Xoay chạy nguồn vốn, mua sắm cơ sở vật chất đầu tư để sắm mới trạm biến áp 180 KVA. HTX còn mua thêm một máy bơm điện công suất 20KW, kết hợp làm tốt khâu thủy lợi,khoanh vùng,  khoanh ô, hoàn chỉnh hệ thống đê bao, cống kè, đáp ứng chống lũ đầu mùa đảm bảo hai vụ. Tính riêng từ năm 1987-1995 đã đào đắp hơn 40.000m3 đất, nạo vét kênh mương, đắp thêm đê đập.

        Cũng trong thời gian 1987-1995 từ một trạm biến thế 180KW, Tuy Lộc sắm thêm hai trạm mới với công suất 340KWA để phục vụ cho tưới tiêu, thủy lợi và cung cấp điện sinh hoạt, điện dịch vụ  kinh doanh dịch vụ trong nhân dân- Củng cố xây dựng 4 trạm bơm điện cùng với đường dây hạ thế 3500m, tiếp tục nạo vét Hói chùa-Cồn quán-Bốn Cồn hơn 3000m3 bùn đất, đảm bảo thuận tiện khi chống úng, chống hạn và giao thông trên đồng ruộng.

        Từ một máy MTZ 80 năm1988-1995 đã có 3 máy kéo( công suất 80 ngựa) cùng với đàn trâu gần 100 con đã thực sự chủ động được khâu làm đất trên địa bàn HTX.

        Đường lên xã, lên thôn và các trục đường chính ra ruộng thường xuyên được tu bổ qua từng thời kỳ đảm bảo vận chuyển đi lại thuận tiện, bến nước, đường làng được bê tông hóa đảm bảo sinh hoạt trong nhân dân.

        Nhờ vậy mà Tuy Lộc đã ổn định được thời vụ, chủ động gieo cấy, thu hoạch kịp thời. Những vùng trũng ngoài đê từ chỗ lấn dần lúa xuân, đến nay đã gieo thẳng 100%, cho năng suất đạt 45-50 tạ/ha. Vùng ven Phá Hạc Hải đã vĩnh viễn xóa bỏ giống cũ, như su ven-thực hiện 100% diện tích lúa xuân VN20-X21-X23 đảm bảo năng suất cao và có khả năng tái sinh tốt.

        Trong điều hành sản xuất, quản lý dịch  vụ Tuy Lộc từng bước điều chỉnh để tiến hành cơ chế khoán gọn một cách hợp lý. Các máy móc trong HTX( máy cày kéo, máy cưa, bơm điện), hệ thống thủy lợi, làm đất, bảo vệ thực vật và các dịch vụ khác trong trời kỳ này được đấu thầu  nhưng mọi hoạt động do HTX điền hành quản lý  dưới sự chỉ đạo chung một cách nhịp nhàng. HTX chủ động xoay chạy vật tư như phân bón, giống, thuốc trừ sâu và các vật tư kỹ thuật khác phục vụ cho xã viên. NHờ đó đã hỗ trợ kịp thời nên các gia đình chính sách, hộ neo đơn, những gia đình khó khăn vẫn có điều kiện đầu tư thâm canh đảm bảo mùa vụ cho năng suất cao.

        Với diện tích canh tác hàng năm 450 h, bình quân nhân khẩu trong HTX thì diện tích còn thấp. Nhưng nhờ đầu tư hợp lý và thay đổi giống cây trồng thích hợp, cùng với việc áp dụng các biện pháp KHKT phục vụ cho sản xuất kịp thời nên năng suất, sản lượng qua từng năm tăng lên rõ rệt: Năm 1987 có tổng sản lượng 1450 tấn thì đến năm 1995 có tổng sản lượng 1510 tấn lương thực.

        Các ngành nghề chăn nuôi cũng được chú trọng phát triển. Chăn nuôi vịt đàn, vịt đẻ của hộ xã viên hằng năm có từ 12-15 ngàn con, lợn thịt, trứng xuất bán ra thị trường ch giá trị hàng hóa cao. Chăn nuôi gia súc - gia cầm thường xuyên đạt từ 80-100 tấn/năm. Hoạt động ngành nghề đa dạng từ cưa, xẻ, mộc, nề, cơ khí nhỏ, khai thác vật liệu xây dựng, máy tuốt lúa, máy xay xát, máy cày kéo thường xuyên hoạt động thu hút hơn 200 lao động mỗi khi thời vụ đến.

        Bộ mặt văn hóa xã hội, đời sống văn hóa được nâng cao một bước. Ngõ xóm đường làng khang trang, sáng ngời ánh điện. Bến nước, đường đi lại được bê tông hóa vững chắc. Các lớp mẫu giáo nhà trẻ được củng cố, xây dựng đủ trng thiết bị phục vụ cho việc dạy và học. Các đoàn thể được chú trọng và hoạt động có hiệu quả hơn.

Từ những năm đầu thực hiện Nghị quyết 10 nền kinh tế, bộ mặt xã hội của Tuy Lộc đã có  những đổi mới đáng kể. Đời sống của người lao động từng bước ổn định. HTX làm ăn đã có tích lũy, cơ sở vật chất được tăng cường, hoàn trả hết nợ nần tiền vay. Đội ngũ cán bộ đã tích lũy kinh nghiệm trong quá trình điều hành qản lý.Mạnh dạn áp dụng các biện pháp KHKT thay đổi bộ giống, thay đổi hình thức canh tác, chú trọng đầu tư đúng kỹ thuật biết phát huy khả năng nội lực từng bước làm chủ nguồn vốn, nhân lực, khai thác khả năng có thể để đưa Tuy Lộc ngày một đổi mới, nâng cao đời sống nhân dân.

        Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, là xí nghiệp ngoài trời nên ít nhiều bị thiên nhiên chi phối. Bởi vậy sản xuất gặp không ít khó khăn, thiên tai xảy ra ngoài khả năng lường trước nên phần nào ảnh hưởng đến kết quả lao động.

        Bước vào vụ Đông-xuân1988-1989, một quyết tâm và đổi mới của Tuy Lộc là thực hiện gieo thẳng 40 ha vùng trong đê và làm tái sinh 60 ha vùng ngoài đê. Bước đầu sản xuất rất phấn khởi và tạo được lòng tin, sự ủng hộ của người lao động. Nhưng lúa chưa chín đều thì thiên tai ập đến gây lũ lụt vào tháng 4-1989 làm ngập trắng trên toàn bộ diện tích gieo cấy của Tuy Lộc. Kết quả vụ sản xuất Đông - xuân năm đó bị mất mùa, năng suất bình quân chưa đến 20ta/ha, snar lượng lương thục không đạt kế hoạch, vụ lúa tái sinh cũng không thực hiện được.

        Trời làm mất bắt đất phải đền-Vụ tám năm 1989 Tuy Lộc phấn đấu với quyết tâm cao, gieo cáy hết diện tích có thể gieo cấy được với 105ha cho năng suất 30 tạ/ha. Nhờ vậy sản phẩm xã hội đạt 1000 tấn. Nhờ những tắng lợi trong sản xuất năm 1988 nên đời sống nhân dân được ổn định.

        Thực hiện Nghị quyết 10 là một việc mà mới mẻ chưa có mô hình cụ thể, Tuy Lộc vừa làm vừa học vừa rút kinh nghiệm một cách mạnh dạn. Tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng rõ ràng đã có những đổi mới đáng khích lệ, có nhiều tiến bộ trong điều hành, quản lý và sản xuất kinh tế. Nguồn vốn của HTX đã có tích lũy, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc đáng kể.

        Đội ngũ cán bộ được kiện toàn và sắp xếp gọn nhẹ. Một thời kỳ không dài từ 1987-1995 vai trò chủ chốt chủ nhiệm HTX qua nhiều lần thay đổi. Tù ông Lê Anh Vũ đến ông Dương Công Hoãn, tiếp đó là ông Dương Công Lập.

        Bí thư kiêm Kiểm soát trưởng HTX Tuy Lộc từ ông Dương Công Hoãn đến Lê Thanh Sơn-Lê Văn Khuy, Phạm Bá Sự.

        Tuy có thay đổi nhiều lần nhưng vẫn đảm bảo sự lãnh đạo đoàn kết nhất trí cao, biết phát huy sức mạnh lãnh đạo của Đảng bộ, bám sát Nghị quyết qua từng thời kỳ, phát động phong trào lao động của nhân dân sôi nổi thi đua lao động sản xuất trong thời kỳ đổi mới. Dám nghĩ, dám làm, suy nghĩ tìm phương sách tối ưu để vận dụng thích ứng với thực tiễn và điều kiện cụ thể của địa phương.

        Năm 1994 thực hiện Nghị định 64 giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người lao động, HTX đã  tổ chức phân loại ruộng đất chia cho 584 hộ làm ruộng với 2854 nhân khẩu. Bước đầu đưa quyền sử dụng đất nông nghiệp đến hộ xã viên đã phát huy tốt hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Xã viên thực sự làm chủ trên thửa ruộng của mình nên đã tập trung đầu tư, chăm bón, nhờ vậy năng suất đã có bước tiến rõ rệt.

T      ừ thắng lợi của những năm đổi mới đã tạo cho Tuy Lộc một thế đứng vững vàng. Mọi cố găng phán đấu cần cù bền bỉ của cán bộ, nhân dan trong thôn là nề móng, là tiền đề cho Tuy Lộc vững bước đi lên trong giai đoạn cách mạng mới.

          TUY LỘC TRÊN ĐÀ PHÁT TRIỂN 1996-2003

        Bằng nguồn vốn từ sức lao động, từ đất đai sẵn có mà đi lên Tuy Lộc chuyển mình bước sang giai đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ đưa nền kinh tế xã hội từng bước phát triển vững chắc. Phong trào thi đua lao động sản xuất xây dựng nông thôn mới ngày một khởi sắc đáng phấn khởi.

        Rút kinh nghiệm qua những năm đổi mới, với những bài học thắng lợi, còn có những khó khăn cần phải vượt qua. Tuy Lộc vững lòng tin, đoàn kết bước vào giai đoạn sản xuất kinh tế- xây dựng HTX đi lên.

        Thực hiện luật HTX, kể từ ngày 01-01-1997, HTX Tuy Lộc tổ chức chuyển đổi. Từ một HTX sản xuất nông nghiệp đổi thành HTX kinh doanh dịch vụ nông nghiệp với vốn đăng ký kinh doanh theo vốn điều lệ 612.500.000 đồng. Ông Dương Công Lập được xã rút lên đảm nhiệm cương vị mới. Đại hôi Đại biểu xã viên nhất trí bầu ra ban kãnh đạo mới. Đó là:

        Bí thư Đảng bộ BP Tuy Lộc-Trưởng ban kiểm soát kiêm trưởng thôn Tuy Lộc: Ông Trần Minh Hợp. Chủ nhiệm HTX KDDVNN Tuy Lộc: Ông Dương Công Toản. Đội ngũ cán bộ được tinh giản gọn nhẹ đủ năng lực điều hành quản lý kinh doanh dịch vụ có hiệu quả. Biết vận dụng thích hợp, tháo gỡ khó khăn vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, tổ chức tốt đời sống nhân dân. Mạnh dạn áp dụng các tiến bộ KHKT, chuyển đổi hình thức sản xuất canh tác, thực hiện lúa tái sinh và mô hình lúa cá. Coi trọng và đầu tư đúng hướng, đúng mức cho công tác thủy lợi và các công trình phúc lợi công cộng làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Biết khai thác tối đa diện tích gieo trồng, vòng quay mùa vụ, phát huy các ngành nghề cổ truyền, sử dung ngành nghề mới nhằm sử dụng hết nguồn lao động, tăng thu nhập, tạo ra nhiều sản phẩm xã hội, đưa cuộc sống nhân dân ngày một ổn định và từng bước nâng cao.

        Chính vì vậy mà từ năm 1996 đến nay(2003) Tuy Lộc đã đạt được những thành tựu đáng kể. Thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra-Kinh tế tập trung không ngừng phát triển. Mỗi bước đi lên vững chắc là niềm tin, niềm tự hào của mỗi người dân.

        Với diện tích canh tác hằng năm 453ha. Nhờ năng suất mỗi năm càng tăng lên nên sản lượng lương thực năm sau cao hơn năm trước. Năm 1996 có sản lượng 1520 tấn thì năm 2002 đạt 2677 tấn. Năng suất 1966 bình quân 33 tạ/ha, năng suất tăng 17 tạ/ha.

        Bình quân lương thực năm 1996 là 530kg/người đến năm 2002 là 953kg tăng 423kg.

        HTX chú trọng đầu tư đúng mức cho công tác thủy lợi bởi đây là vấn đề sống còn của sản xuất nông nghiệp. Đầu tư, tu bổ, đào đắp khoanh ô, khoanh vùng, mương máng cống kè chủ động tưới tiêu kịp thời vụ nên đã đưa 100% diện tích vùng ngoài vào gieo thẳng với các giống lúa mới chi năng suất cao, có khả năng tái  sinh tốt như X21-X23-NXI30..đưa năng suất từ 20-25 tạ/ha lên 45-50 tạ/ha. Thu hút vốn đầu tư của nhà nước gần 900 triệu đồng đào đắp gần  120.000m3 đất, bùn-kè đắp đập chắn sóng bê tông gần 1km, bê tông hóa mương máng 6,4km xây mới 5 cống kè với tổng vốn đầu tư gần 1,3 tỷ đồng.

        Bước đi vững vàng hai chân trong sản xuất của nền kinh tế Tuy Lộc phát triển đồng đều đa dạng phong phú, tạo điều kiện cho người lao động phát triển thành phong trào trong từng gia đinh.

        Đàn trâu bò hiện có 95 con cùng với 7 máy cày kéo lớn nhỏ đáp ứng kịp thời cho khâu làm đất kịp thời vụ, đảm bảo chất lượng tốt. Cùng với 9 máy tuốt lúa-2 máy cưa xẻ,13 ca nô,4 ô tô hoạt động liên tục trong thời gian mùa vụ giúp cho xã viên thu hoạch nhanh chóng.Các cơ sở mộc nề, cơ khí nhỏ, may xay xát, kem đá thu hút trên 100 lao động, thu nhập tăng đáng kể.

        Phát huy nghề nấu rượu cổ truyền nên rượu Tuy Lộc đã trở thành đặc sản nổi tiếng được khắp nơi ưa chuộng. Nhờ có sản phẩm phụ từ rượu nên nghề chăn nuôi lợn thịt, lợn nái phát triển. Hàng năm cung cấp  cho thị trường 120-125 tấn thịt, lựn giống 600-700 con. Phát triển chăn nuôi vịt đàn, vịt đẻ, ấp trứng và nghề chăn nuôi gà, ngan ngỗng là nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân.

        Đặc biệt Tuy Lộc đã làm tốt mô hình lúa cá, đem lại kết quả cao, trở thành điển hình cho nhiều HTX áp dụng. Nam 2002 bình quân thu nhập 15 triệu đồng /ha nuôi cá.

        Thu nhập từ sản xuất chăn nuôi ngành nghề hàng năm có tổng thu trên 8 tỷ đồng, đưa thu nhập đầu người bình quân tháng trên 250 ngàn đồng.

        Nền kinh tế phát triển đã thay đổi bộ mặt văn hóa nông thôn thay đổi. Thực hiện chỉ thị 27CTTW ngày 12-1-1998 của Bộ chính trị về xây dựng nếp sống văn minh-gia đình văn hóa, hưởng ứng cuộc vận động “Toàn  dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” thôn Tuy Lộc đã xay dựng các tiêu chí làng văn hóa, xây dựng nông thôn mới. Đại hội đại biểu xã viên và Đại biểu hộ gia đình đã nhất trí xay dựng quy ước làng văn hóa gồm 6 chương 37 điều được toàn dân đồng tình cam kết thực hiện, tạo điều kiện xây dựng nếp sống mới ở khu dân cư. Hiện tại Tuy Lộc có hơn 70% gia đình đạt danh hiệu “ Gia đình văn hóa”. Đường làng ngõ xóm phong quang sạch sẽ, đường lên thôn lên xã dài 9,3km được bê tông hóa, trên đồng ruộng có 6,4km kênh mương cũng được bê tông hóa.

        Từ kết quả của sự đoàn kết xây dựng của toàn Đảng toàn dân trong thôn, năm 2000 thôn Tuy Lộc được công nhận làng văn hóa cấp huyện.

        Hệ thống giáo dục từ mầm non nhà trẻ, trường tiểu học phổ thông được quan tâm chu đáo. Tuy Lộc đã giành nhiều tiền vốn để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học, xây dựng trường tiểu học khu vực Tuy Lộc trên 240 triệu đồng. Trường mẫu giáo  mầm non được tu bổ và hoàn thiện, các công trình vệ sinh, vui chơi giải trí, trang thiết bị dạy và học được trang bị hơn 330 triệu đồng. Xây dựng các công trình công cộng gần 200 triệu.

        Phát huy khối Đại đoàn kết toàn dân, xây dựng các phong trào hoạt động như: 

        - Hội người cao tuổi Tuy Lộc : có 600 hội viên

        - Hội nông dân : có 321 hội viên

        - Hội cựu chiến binh: có 204 hội viên.

        - Liên chi đoàn TN : 101

        Tất cả các tổ chức phong trào đều hoạt động có hiệu quả như mô hình lúa cá của hội nông dân. Phong trào kết hợp giữa lực lượng CCB và ĐTN phát hu tốt. Đặc biệt là phong trào “ Ông bà cha mẹ mẫu mực-Con cháu thảo hiền”, đã thể hiện tính đạo lý của con người Việt Nam, thể hiện thuần phong mỹ tục và nếp sống quê hương. Đối với  những người đã khuất, lãnh đạo thôn cùng BCH hội người cao tuổi tổ chức lễ viếng, lễ tang, mai táng cùng với việc lo phục vụ đưa tiễn chu đáo, không gây phiền hà cho tang chủ.

        Các phong trào xã hội thực hiện Hương ước của thôn từ kinh tế đến văn hóa đều thực hiện tốt, thực hiện qua các lễ hội, nhất là hội đua thuyền truyền thồng hằng năm trên sông Kiến Giang-Đây là nét  đẹp truyền thống của vùng quê sông nước, cùng với điệu hò khoan xứ Lệ cùng phong tục giã gạo đêm trăng đã thành truyền thống làng Tuy Lộc.

        Mọi hoạt động văn hóa văn nghệ, bóng đá, bóng chuyền đều được tổ chức đều đặn khi có lễ tết. Quan tâm đến các gia đình chính sách, hộ neo đơn. Nhân dịp ngày 1/6 hoặc lễ trung thu  các cháu thiếu nhi đồng được săn sóc chu đáo.

        Đời sống văn hóa, đời sống kinh tế được nâng cao cả vật chất lẫn tinh thần. Đến nay đã có 95% nhà ngói tường xây, sân phơi giếng nước đảm bảo vệ sinh.90% hộ gia đình mua sắm phương tiện nghe nhìn, nhiều gia đình sắm được xe máy cho con em đi học và phục vụ việc đi lại. Đầu tư tiền vốn mua sắm máy móc xe cộ, phương tiện sản xuất như ô tô, ca nô, máy kéo.. Hộ gia đình làm ăn khá giả chiếm 40-45%, hằng năm có nguồn thu từ 15-20 triệu đồng, có hộ lên đến 23-25 triệu đồng. Nhiều hộ đã xây dựng nhà hai gác khang trang, đảm bảo cho con em học hành đến nơi đến chốn. Số hộ nghèo đến năm 2003 còn 4%.

        Từ những năm đầu của thế kỷ 21, nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta tự hào rằng: Moị cố gắng phấn đấu của cán bộ và nhân dân Tuy Lộc đã thu được nhiều thắng lợi hết sức vẻ vang, đáng tự hào phấn khởi tuy là những thắng lợi bước đầu nhưng là cơ sở tiền đề vững chắc cho Tuy Lộc bước tiếp những chặng đường mới.

        Trên cơ sở phát huy những thắng lợi đã đạt được, Tuy Lộc đã định hướng những bước đi tiếp theo với quyết tâm cao. Trong phương hướng kế hoạch đến năm 2005 Tuy Lộc sẽ có những bước đột phá mới trong kinh tế xã hội. Xâu dựng 80 ha vùng trong đê thành vùng lúa cao sản, sản xuất giống phục vụ trực tiếp cho sản xuất, đưa năng suất từ 50 tạ/ha lên 65-70 tạ/ha góp phàn đưa tổng sản lượng đạt 3000 tấn. Bình quân đầu người đạt trên 1000kg thóc/năm. Tiến công về vùng Hạc Hải quai dê lấn phá, nuôi tôm, nuôi cá lồng kết hợp chăn nuôi vịt đàn, vịt đẻ. Phát triển mạnh nghề nấu rượu cổ truyền không chỉ dùng trong vùng mà sẽ đóng chai, trở thành đặc sản của quê hương Tuy Lộc xuất bán rộng rãi trên thị trường. Phấn đấu đưa thu nhập từ chăn nuôi đạt 40-45% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình và góp phần xây dựng giữ danh hiệu làng văn hóa. Tập trung xây dựng vùng Tràng tám thành trung tâm văn hóa và các hoạt động thể thao, vừa là nơi vui chơi giải trí cho người lao động và con em quê hương.

        Những dự định, kế hoạch đang được triển khai thực hiện, một ngày không xa sẽ được sử dụng có hiệu quả, đang chờ đợi những thế hệ tương lai viết thêm những trang mới rạng rỡ, xứng đáng với truyền thống quê hương.

(Còn nữa ...)

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
HT: Trần Viết Hoàng
HT: Trần Viết Hoàng
P.HT: Võ Đức Liến
P.HT: Võ Đức Liến
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


BẢN QUYỀN THUỘC VỀ TRƯỜNG THCS LỘC THỦY
Địa chỉ: HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0523.882872 * Email: thcslocthuy@lethuy.edu.vn